VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG THIẾT BỊ, CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI NGHIỆP
Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có lâm phần rộng, trãi dài với tổng diện tích 41.862 ha, trong đó: diện tích phần đất liền 15.262 ha (chia làm các phân khu: Phân Khu bảo vệ nghiêm ngặt: 12.203; Phân Khu phục hồi sinh thái: 2.859 ha; Phân Khu hành chính dịch vụ: 200 ha) và diện tích phần ven biển là 26.000 ha thuộc địa giới hành chính của 03 huyện, 05 xã: xã Đất Mũi, Viên An, huyện Ngọc Hiển; xã Đất Mới, Lâm Hải, huyện Năm Căn và xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân. Để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau đã thành lập 08 đội quản lý trực tiếp và 01 tổ cơ động.

Trước đây, từ 2014 trở về trước, hoạt động kiểm kê, đo vẽ diện tích được tiến hành trực tiếp thông qua một số vị trí có đặc điểm nhận dạng nên phải dùng dụng cụ thước đo, cữ cán bộ đến hiện trường, nên yêu cầu cán bộ thực hiện phải có thâm niên gắn bó với từng khu vực rừng cụ thể, hoạt động này mất rất nhiều thời gian, chi phí nhưng độ chính xác, khả năng lưu trữ, điều chỉnh, cập nhật, báo cáo rất khó khăn, thiếu trực quan.
Trong thời gian gần đây, với tiến bộ của các ứng dụng và thiết bị công nghệ, được lãnh đạo quan tâm đầu tư, nghiên cứu áp dụng, để tiến hành các hoạt động tương tự trở nên nhanh chóng, tiết kiệm, chính xác.

Ảnh: Sơ đồ vị trí sau khi xác định mức độ xói lở qua các mốc năm
Đơn cử như công tác phân định ranh giới giao cho 08 Đội Quản lý bảo vệ rừng (không giao diện tích cụ thể cho Đội cơ động). Đơn vị đã sử dụng phần mềm Mapinfo cắt vẽ ranh giới 08 đội trên nền bản đồ kiểm kê rừng năm 2014 sau đó dùng phần mềm Global Mapper chuyển file bản đồ các đội đã cắt sang định dạng KML và đưa vào máy định vị GPS cầm tay để đi thực địa. Thao tác này giúp xác định rõ số lô, tiểu khu và quá trình di chuyển sẽ không lệch khỏi vùng (polygon) diện tích đã cắt trên bản đồ số từ đầu. Sau khi thực hiện thao tác xác định toạ độ trên thực địa lại được nhập trở lại vào phần mêm Mapinfo và xuất bản đồ có đầy đủ thông tin về toạ độ, diện tích, được số hoá trên bản đồ.
Bên cạnh đó với bản đồ số đã chuyển vào thiết bị GPS, hoạt động tuần tra trên biển, trong điều kiện thời tiết xấu, tầm nhìn hạn chế, tránh cho viên chức quản lý bảo vệ rừng không bị lạc đường, đi quá phạm vi được giao quản lý, sang lâm phần khác của Đội khác trong điều kiện mưa, thời tiết xấu điều này thường xuyên xãy ra.
Ngoài ra, để theo dõi biến động xói lở, bồi tụ đường bờ ven biển Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau đã Ứng dụng máy GPS, Flycam kiểm tra thực địa và kết hợp số hóa bản đồ vệ tinh. Trước tiên, trong các đợt tuần tra, kiểm tra các viên chức quản lý bảo vệ rừng đã dùng mày GPS ghi nhận lạ các toạ độ, vị trí xói lỡ hoặc có nguy cơ xói lỡ ven biển. Sau đó, đưa dần các thông tin đã thu thập vào phần mềm Mapinfo và chuyển vào Google Earth. Sử dụng Google Earth để xác định mức độ xói lỡ qua thời gian các năm, giai đoạn 03 năm (2014, 2017 và 2020) tại vị trí đã xác định một cách định tính, mô tả phần nào xu hướng xói lỡ của khu vực làm cơ sở ban đầu để xác định, đề xuất với lãnh đạo, với cơ quan chuyên môn tập trung quan tâm có phương án giảm thiểu thông qua hoạt động khôi phục, phát triển rừng phòng tránh, giảm thiểu tác động gây xói lỡ. Kết hợp với sử dụng Flycam xác định hiện trạng ngoài thực địa, chụp ảnh ở độ cao tối thiểu để đánh giá tình trạng biến đổi đường bờ theo mốc các năm đã chọn. Khoanh vẽ sơ đồ vị trí trên các phần mềm GoogleEarth, Mapinfo,.. thể hiện mức độ biến đổi đường bờ (xói lở, bồi tụ) tại các mốc năm đã chọn (03 năm), báo cáo hiện trạng và đề xuất giải pháp một cách định tính xu hướng (vì để chính xác hơn cần ảnh vệ tinh với độ phân giải cao, chu kỳ nhiều năm hơn).
Việc ứng dụng thiết bị, công nghệ thông tin vào công tác ngoại nghiệp của Vườn như đã nêu trong thời gian qua mới chỉ là bước đầu so với các đơn vị có nhiều điều kiện về kinh phí, nhân lực có trình độ cao nhưng cũng đã góp phần tiết kiệm rất nhiều cho viên chức, người lao động về thời gian, chi phí hoạt động ngoại nghiệp. Quan trọng hơn là thông tin, tài liệu, dữ liệu, bản đồ số được xây dựng trên nền tảng kỹ thuật số có độ chính xác cao, thuận lợi cho việc kết hợp, truy xuất, cập nhật, chia sẽ, báo cáo được trực quan, sinh động, phục vụ cho công tác ra quyết định của lãnh đạo được nhanh chóng, kịp thời./.
Ảnh và Bài viết: Lê Tỏa Rạng