BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐA DẠNG SINH HỌC VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU
Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập theo Quyết định số 142/2003/QĐ-TTG ngày 14/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển khu bảo tồn Thiên nhiên Đất Mũi thành Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, tỉnh Cà Mau, có tổng diện tích 41.862 ha, trong đó: diện tích phần đất liền 15.262 ha (chia làm các phân khu: Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt: 12.203 ha; Phân khu phục hồi sinh thái: 2.859 ha; Phân khu hành chính dịch vụ: 200 ha) và diện tích phân khu chức năng trên biển là 26.600 ha thuộc địa giới hành chính của 05 xã của 03 huyện: xã Đất Mũi, Viên An, huyện Ngọc Hiển; xã Đất Mới, Lâm Hải, huyện Năm Căn và xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân.
Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau được Tổ chức Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO đã chính thức công nhận khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau vào ngày 26/5/2009. Đến ngày 13/12/2012 Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau chính thức được Ban thư ký Công ước Ramsar (Công ước bảo tồn những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của những loài chim nước Ramsar, Iran,1971) công nhận là khu Ramsar thứ 05 của Việt Nam và thứ 2.088 thế giới.

Ảnh: Tuần tra bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Tác giả: Thanh Dũng
Hệ sinh thái rừng ngập mặn Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau là hệ sinh thái chuyển tiếp giữa hệ sinh thái biển và hệ sinh thái đất liền. Với vị trí địa lý 3 mặt giáp biển, nơi giao thoa giữa biển đông và biển tây, chịu ảnh hưởng cả hai chế độ thủy triều. Đặc điểm vùng ven biển thấp, nóng ẩm, mưa nhiều, hệ thống kênh rạch nội đồng chằng chịt và chế độ thủy triều – dòng chảy pha trộn phức tạp tạo cho Mũi Cà Mau có một hệ sinh thái ngập mặn độc đáo, quy tụ nhiều sinh vật đặc thù và mang tính đa dạng sinh học cao.
Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau hiện có 27/32 loài cây ngập mặn đã được phát hiện ở Việt Nam và 28 loài cây khác tham gia vào hệ thực vật ở vùng đất này, trong đó chiếm ưu thế thuộc về loài Đước đôi (Rhizophora apiculata), Mấm trắng (Avicennia alba), Mấm đen (A. officinalis), Mấm ổi (A. marina), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) với quần thể thực vật gồm rừng tái sinh tự nhiên hỗn giao giữa cây đước, vẹt và mấm.
Cho đến nay, đã ghi nhận ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có 101 loài chim, 28 loài thú, 43 loài bò sát, lưỡng cư và 139 loài cá. Với một số loài quý hiếm như: Khỉ đuôi dài (Macaca fasciculalis), Cà khu (Trachypithecus cristatus), Bồ Nông chân xám (Pelecanus philippinensis), Cốc đế (Pharacrocorax carbo), Choắt chân màng lớn (Limnodromus semipalmatus), Giang sen (Mycteria leucocephala), Cò nhạn (Anastomus oscitans), Dù dì (Ketupa ketupu). Đặc biệt khu vực Bãi Bồi và Đất Mũi được tổ chức Birdlife Quốc tế tại Việt Nam xác định là hai vùng chim quan trọng.

Ảnh: Loài chim quý hiếm Dù dì (Ketupa ketupu) tại Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.
Trong những năm gần đây, số lượng các loài động vật giảm đáng kể. Do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Biến đổi khí hậu làm thay đổi môi trường sinh thái; Nhận thức của người dân về quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên còn hạn chế, tác động của các hoạt động của người dân sống trên và xung quanh lâm phần Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.
Vườn chủ động phối hợp chặt chẽ với Chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng, đơn vị liên quan nỗ lực giáo dục tuyên truyền, nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học cho người dân. Đồng thời, Vườn phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước xây dựng nhiều mô hình sản xuất kết hợp, khuyến khích người dân phát triển du lịch sinh thái tạo việc làm, cải thiện thu nhập nhằm giảm sức ép vào tài nguyên.
Đứng trước những thách thức về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, rác thải nhựa, nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học và tình trạng khai thác tài nguyên thủy sản trái phép, Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau đã thực hiện nhiều giải pháp bảo vệ như: Phối hợp thực hiện Dự án Gây bồi, tạo bãi, trồng cây ngập mặn bảo vệ bờ biển khu vực Đất Mũi; Phối hợp với tổ chức WWF Việt Nam, Trung tâm Gaia thực hiện khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng trên bãi bồi nhằm mở rộng diện tích rừng, tạo môi trường sinh thái cho các loài động thực vật sinh sống; Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học với các tổ chức, trung tâm, các trường Đại học Cần Thơ, trường Đại học An Giang, trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh,.. phục vụ việc đào tạo, tham quan học tập theo quy định của quy chế quản lý rừng đặc dụng; Xây dựng và triển khai thực hiện các nhiệm vụ bảo tồn động vật hoang dã hàng năm./.
Ảnh và Bài viết: Lý Đệ